Bộ máy quản lí làng Mỹ Xuyên Tây qua các
thời kì lịch sử
a)
Thời phong kiến
Giai đoạn đầu thời Lê Sơ khi xã Mỹ Xuyên
được thành lập, cấp hành chính địa phương thấp nhất là xã
(làng). Xã gồm đại xã, trung xã và tiểu xã tùy theo số dân, đứng đầu mỗi xã là
xã quan, đến thời Lê Thánh Tông đổi thành xã trưởng.
Hội đồng kì mục của mỗi xã có vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn như một
UBND xã hiện nay.
Đầu thế kỷ 19, vua Gia Long
xác định rõ vị trí, vai trò của làng xã trong “Chiếu định điều lệ hương
đảng”. Hệ thống cơ quan hành chính và quan lại các cấp được tổ chức
thống nhất, chặt chẽ, bao gồm cấp tỉnh, dưới tỉnh c
ó phủ và huyện, dưới huyện
có tổng và xã.
Thời Minh Mạng gọi trưởng
làng là Lý trưởng, tùy quy mô xã và dân số (đại xã, trung xã, tiểu xã) để quy
định số lượng Lý phó và Lý dịch của mỗi xã (làng). Hội đồng kì dịch gồm các “hương
quản” phụ trách hành chính, giáo dục, tế tự, binh lính phu phen, tài chính thuế
khóa, điền địa, an ninh, xét xử các vụ kiện nhỏ,... như một Ủy ban nhân dân
thời nay. Minh Mạng quy định rõ tiêu chuẩn chọn Lý trưởng và phải do dân bầu:
“Lý trưởng, Lý phó phải là những người có một tài sản nhất định, mẫn cán, phải
do dân làng đồng tình bầu cử, phủ huyện xem kỹ lại rồi báo lên trên để cấp văn
bằng, mộc triện.”
Vua Tự Đức ban hành “Minh
điều Hương ước” (1852). Bộ máy quan lại từ tri huyện trở lên do triều đình bổ
nhiệm, từ cai tổng trở xuống đến lý trưởng do dân bầu ra và được nhà nước phê
duyệt. Theo đó, các xã (làng) tùy theo lớn nhỏ được tùy nghi công cử các chức
vụ để quản lý làng xã, gồm: Hội đồng kỳ mục và các dịch mục chuyên trách những
công việc nhất định, nếu là xã lớn thì số lượng có thể lên đến vài ba chục
người hưởng lương. Vì thế, đội ngũ Cai tổng, Lý trưởng là đội ngũ “dân quan”.
Trong thời kì này, Lý trưởng Nguyễn Thế Điệp,
là người Lý trưởng cuối cùng thực hiện lệnh của tri huyện “sức dân” MXT cùng
với MXĐ nạo vét sông Mãi Xuyên (nạo vét chứ
không phải là đào) để mùa mưa nếu nước lụt không tràn vào các xóm để xuống
đồng thì nước lũ mang phù sa xuống các cánh đồng thấp qua sông Mãi Xuyên.
b)
Thời thực dân nửa phong kiến (1884-1945)
Thời vua Duy Tân (1907-1916),
trưởng làng gọi là Xã trưởng.
Năm 1921 người Pháp ra
lệnh bãi bỏ Hội đồng kỳ mục và thay thế vào đó là Hội đồng tộc biểu, còn
gọi là Hội đồng hương chính nhưng chỉ áp dụng được 6 năm thì phải lập
lại Hội đồng kỳ mục để cùng điều hành “việc làng”.
Năm 1941 cả hai hội đồng
kỳ mục và hội đồng hương chính bị bãi bỏ và một hội đồng duy nhất được lập
ra: Hội đồng kỳ hào, giao việc quản lý cho Ủy ban quản trị gồm xã trưởng, xã
phó, chưởng bạ (trông coi sổ sách điền
bộ), hộ lại (trông coi giấy tờ sinh,
tử, giá thú, phu phen), tri lễ (lo
việc tế tự ở đình miếu), thủ quỹ và cai tuần.
Tên các Xã
trưởng nửa đầu thế kỉ 20 mà các bô lão còn nhớ tên như: Xã An (người tộc Nguyễn
Văn), Xã Huyên (Nguyễn Ngọc), Xã Điền (Nguyễn Văn), Xã Nghiêm (Nguyễn Ngọc), Xã
Huynh (Nguyễn Văn), Xã Tẩn (Nguyễn Ngọc), Xã Miên (Trần Văn), Xã Ngạc (tộc Huỳnh),
Xã Siêu (Nguyễn Đức), Xã Bổ (tộc Nguyễn Thành), Xã Cừu (tộc Huỳnh), Xã Cửu
(Huỳnh Công), Xã Quýnh (tộc Nguyễn Ngọc). Trong đó Xã Huynh là người để lại dấu
ấn sâu đậm nhất, dân làng khen ngợi nhất (xem
bài “Cuộc tranh giành đất… X.Tây - Hà Mật)
c)
Thời kì 1945-1975
Từ năm 1945, thể chế hành
chính thời “cộng hòa” ra đời đã chuyển giao chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của “Hội
đồng hương đảng” thời phong kiến cho Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban xã; các “xóm
của làng” cũng khác với các thôn/ấp của xã mới. Ban trị sự làng chỉ lo việc
tang tế, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích và phong tục tập quán phù hợp
với thời đại mới mà thôi.
- Về ranh giới: Một xã thời “Việt Nam dân chủ cộng hòa” bao gồm nhiều làng xã thời
phong kiến.
Theo Địa chí QN-ĐN (Sđd, trang 172), 129 làng của huyện Duy
Xuyên thời Nhà Nguyễn được Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Quảng Nam gộp thành
36 xã mới vào năm 1946. Lúc này làng Mỹ Xuyên Tây thuộc xã Cổ Am([1]), bao gồm các làng: Xuyên
Tây, Mỹ Khê Cựu và Vĩnh Lại.
Lần gộp xã năm 1948: hợp 36
xã thành 12 xã, lấy từ “Duy” đứng đầu tên xã. Xã Duy An bao gồm thêm các làng Mỹ
Xuyên Đông, Hạt Toán, Cau Quản, Thượng Đình, Mỹ Khê Tân, Trung Lương, Mỹ Long, Long
Xuyên, Phụng Châu Tây, Phụng Châu Đông, Tân Mỹ Đông, Tân Mỹ Tây. Lúc này làng
Mỹ Xuyên Tây thuộc xã Duy An.
Lần gộp xã năm 1950 đã hợp
12 xã thành 6 xã mới, làng Mỹ Xuyên Tây thuộc xã Duy Phương (Duy An & Duy Phước ngày nay).
Theo “Lịch sử đấu tranh cách
mạng của nhân dân Duy Xuyên dưới sự lãnh đạo của Đảng” (Nxb Đà Nẵng, 1995, trang 8), lần tách xã vào tháng 6 năm 1954 (trước khi kí Hiệp định Giơnevơ ngày
20-7-1954), Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh QN-ĐN đã chia 6 xã của DX
thành 13 xã. Làng Mỹ Xuyên Tây thuộc xã Duy An.
Tuy nhiên các chính phủ thân
Nhật, Pháp và Mỹ cũng lập các xã riêng và thiết đặt bộ máy quản lí cấp xã
riêng, tiêu biểu như xã Xuyên Châu và xã Xuyên Mỹ của VNCH (1954-1975) ứng với
xã Duy An của Cách mạng. Làng Mỹ Xuyên Tây thuộc xã Xuyên Châu, 4 xóm Đô,
Thành, Quang, Hòa của làng MX Tây tương ứng với ấp Xuyên Tây của xã Xuyên Châu.
- Về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban trị sự làng
Các Ủy ban
xã giữ toàn quyền về hành pháp và tư pháp, còn Ban trị sự các làng MX Đông và
MX Tây chỉ còn trách nhiệm quản lí phân chia đất công điền công thổ do Tiền
hiền Lê Quý Công để lại, lo việc tế tự ở đình miếu và việc tang tế ở trong làng.
Thời kì
1945-1975 các cụ cao niên ở làng Mỹ Xuyên Tây còn nhắc tên các xã trưởng như Xã
Đề (tộc Văn Bá), Xã Thám (Nguyễn Thế), Xã Hai (Nguyễn Ngọc), Xã Vận (Nguyễn
Ngọc), Xã Huy (Nguyễn Văn); các chưởng bạ rất giỏi đo đạt phân chia đất công
điền theo sào ta, mẫu ta như ông Nguyễn Văn Hiến ở Mỹ Thành, ông Văn Bá Chấn ở
Mỹ Quang, ông Nguyễn Hữu Ngọ ở Mỹ Hòa.

No comments:
Post a Comment