Lịch sử làng Mỹ Xuyên Tây
qua các thời kì phong kiến
Công văn của Sở Văn hóa tỉnh yêu cầu phải làm
rõ quá trình hình thành và phát triển làng Mỹ Xuyên Tây qua từng thời kì lịch
sử (chứ không phải chỉ viết về Nhà thờ
Tiền hiền), phải đánh giá rõ vai trò của làng Mỹ Xuyên Tây và vai trò của
Tiền hiền Lê Quý Công trong công cuộc mở cõi, lập làng.
a) Làng Mỹ Xuyên Tây thời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn
phân tranh
Như đã trình bày trên đây, làng
Mỹ Xuyên được thành lập trước năm 1460, đến nay đã 600 năm.
Theo sách Địa chí Quảng Nam –
Đà Nẵng (Nxb KHXH, Hà Nội, 2010) thì
từ năm 1402 đến năm 1470, địa bàn làng Mỹ Xuyên thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu
Phong, xứ Thuận Hóa.
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông chiến thắng Chiêm Thành, lập
Thừa tuyên Quảng Nam từ bờ nam sông Thu Bồn([1]) đến Bình Định. Năm 1490 Đạo Thừa tuyên Quảng Nam đổi thành xứ
Quảng Nam, đến năm 1520 gọi là trấn Quảng Nam, địa bàn kéo dài từ bờ nam sông Thu
Bồn đến Bình Định. Địa bàn làng Mỹ Xuyên Tây vẫn thuộc huyện Điện Bàn, phủ
Triệu Phong, xứ Thuận Hóa.
Năm 1604, Nguyễn Hoàng tách
huyện Điện Bàn ra khỏi phủ Triệu Phong để thành lập dinh Quảng Nam thống lĩnh 4
phủ là Điện Bàn, Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (gọi là Quảng Nam lớn) kéo dài từ núi
Hải Vân đến đèo Cù Mông. Phủ Thăng Hoa thống lĩnh 3 huyện là Lệ Giang, Hy Giang
và Hà Đông, nhưng đổi tên huyện Hy Giang thành Duy Xuyên.
Phủ Điện Bàn từ năm 1604 quản 5
huyện (Tân Phú, An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú Châu). Làng Mỹ Xuyên Tây lúc
ấy thuộc tổng Uất Lũy của huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn;
Năm 1776, Lê Quý Đôn viết
sách Phủ biên tạp lục, tên làng Mỹ Xuyên Đông và Mỹ Xuyên Tây vẫn thuộc tổng
Uất Lũy, huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn. (Viện
Sử học dịch - Nxb Văn hóa – Thông tin, 2007, trang 107)
b) Thời Tây Sơn (1778-1802)
Thời Tây Sơn chỉ kéo dài 25 năm
từ 1778 đến 1802, tên và địa giới các đơn vị hành
chính không có thay đổi đáng kể, làng Mỹ Xuyên Tây vẫn thuộc tổng Uất Lũy,
huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn. Huyện Diên Khánh có nhà trạm Long Phúc, dân
thường gọi là trạm Nam Phước để kị huý tiếng “福 phúc” trong tên các chúa Nguyễn.
c)
Thời các vua nhà Nguyễn (1802-1945)
Đầu thế kỉ XIX, sau khi đánh
bại nhà Tây Sơn ở vùng Thuận Quảng, năm Đinh Dậu 1801, Nguyễn Ánh thành lập
dinh Quảng Nam (gọi là “Quảng Nam nhỏ”,
trùng khớp với tỉnh QN & ĐN ngày nay).
Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) tách
phần đất phía tây bắc của huyện Diên Khánh để góp với các đất tách khác để
thành lập huyện Diên Phước([2])
trực thuộc phủ Điện Bàn, phần còn lại đổi tên là huyện Duy Xuyên (gọi là “Duy
Xuyên rộng”) vì nó bao gồm cả phần phía đông của huyện Thăng Bình, Quế Sơn và phía
đông nam của huyện Đại Lộc ngày nay nên cả huyện “Duy Xuyên rộng” có 222 làng
lớn nhỏ, trực thuộc phủ Thăng Hoa([3]).
Làng Mỹ Xuyên Tây thuộc tổng Mậu Hòa Trung huyện Duy Xuyên phủ Thăng Hoa.
Năm 1836, Minh Mạng cho cắt đất
4 tổng phía tây nam của huyện Duy Xuyên để thành lập huyện Quế Sơn và giao bớt 11 xã của Duy Xuyên cho huyện Hòa Vang (sau này
thuộc vùng B huyện Đại Lộc, là huyện được thành lập từ năm 1899 dưới thời vua Thành Thái), phần còn lại của huyện Duy Xuyên có 162 xã
lớn nhỏ, trực thuộc phủ Điện Bàn([4])&([5]). Làng Mỹ Xuyên Tây thuộc tổng Mậu Hòa Trung
huyện Duy Xuyên phủ Thăng Hoa cho đến năm 1945.
Đến gần cuối niên hiệu Bảo Đại,
huyện Duy Xuyên được thăng lên thành “phủ Duy Xuyên”, bình đẵng với “phủ Điện
Bàn”.
Dưới thời Gia Long, tổng Uất
Lũy bị giải tán([6]),
làng Mỹ Xuyên Đông và Mỹ Xuyên Tây thuộc tổng Mậu Hòa Trung, huyện Duy Xuyên,
phủ Thăng Hoa. Tổng Mậu Hòa Trung có 28 làng (24 xã, 3 thôn, 1 phường)([7])
là: An Dưỡng xã - An Thành xã - Phú An xã - Bảo Sơn xã - Phú Đa xã - Câu Lâu
xã - Mỹ Xuyên Đông Giáp xã - Mỹ Xuyên Tây Giáp xã - Phú Lộc
xã - Cây Lim thôn - Phú Nham Đông xã - Chiêm Sơn phụ lũy xã - Phú Nham Tây xã -
Gia Tịnh phường - Phú Sơn Chính xã - Hương Sơn xã - Phú Vinh thôn - La Tháp
Đông xã - Phú Vinh xã - La Tháp Tây xã - Phụ Huyện Đông An thôn - Lang
Châu xã - Tây An xã - Mậu Hòa xã - Thạch Bàn xã - Mỹ Lộc xã - Thu
Bồn xã - Vân Quất xã. (6 xã có gạch
chân nguyên ở tổng Uất Lũy)
Hình
dưới đây: Lược đồ các làng của tổng Mậu Hòa Trung ở huyện Duy Xuyên thời Nhà
Nguyễn. Trong lược đồ đó còn có thêm gần 100 làng xã lớn nhỏ của các tổng/thuộc
Hoa Châu (B),
Xuân Phú Trung (C),
An Lễ Thượng (D),
An Lạc Hạ (E)
“cài răng lược” với các làng của tổng Mậu Hòa Trung suốt từ Phú Đa (nay thuộc
Duy Thu) đến Trà Nhiêu (nay thuộc Duy Vinh)!
Như vậy ông Chánh
tổng của mỗi tổng kể trên muốn đi đến các làng trong tổng của mình thì phải “đi
băng” qua các làng của các tổng kia, từ Thu Bồn đến Trà Nhiêu, khoảng 35km –
40km đường bộ!
Các làng/xã/giáp/châu thời xưa
dù ở cạnh nhau nhưng được khai thiết lập xã hiệu ở đợt sau thì thuộc các tổng
thành lập sau, vì thế có hiện tượng các làng “cài răng lược” với nhau, như làng MX
Đông và MX Tây thuộc tổng Mậu Hòa Trung thời Nhà Nguyễn là tổng của các làng
“cựu trào”, khai thiết lập xã hiệu sớm nhất, trong khi các làng tứ cận với Mỹ
Xuyên như Thi Lai Đông và Bà Mã Châu thì thuộc tổng Duy Đông; các làng Mỹ Khê
Cựu, Mỹ Khê Tân, Vĩnh Lại, Tân Mỹ Tây, Long Xuyên, Hạc Toán, Phụng Tây, Phụng
Đông lại thuộc tổng Mỹ Khê([8]). Tổng
Mậu Hòa Trung, tổng Duy Đông, thuộc Hoa Châu và tổng Mỹ Khê đã “cài răng lược”
các làng với nhau suốt từ làng Mỹ Sơn, Thu Bồn ở cực tây huyện Duy Xuyên xuống
đến các làng Trà Đông, Văn Quật của Duy Vinh và Duy Thành, chứ không liên cư
liên địa với nhau.
Cũng theo Địa bạ triều
Nguyễn, tổng diện tích tự nhiên của làng Mỹ Xuyên Tây thời Gia Long là hơn
387.3.9.1 mẫu ta. Trong đó: Công điền 308.2.11.1 mẫu, tư điền 2.6.6.0 mẫu, thần
từ 2.5.12.0 mẫu, mộ địa 13.1.10.0 mẫu, hoang nhàn 61.2.0.0 mẫu. Xét về tổng
diện tích thì làng Mỹ Xuyên Tây xếp thứ 11 về diện tích so với 28 làng của tổng
Mậu Hòa Trung thời ấy. Nếu kể thêm 40 mẫu ta do sông Kỉ Thế bị bồi lấp thì tổng
diện tích của làng Mỹ Xuyên Tây đầu thế kỉ 20 là gần 438 mẫu ta, vị thứ 3 trong
28 làng của tổng Mậu Hòa Trung.
TỈ LỆ ĐẤT CÔNG, ĐẤT TƯ,... 10 LÀNG TỨ CẬN MỸ XUYÊN
TÂY
Làng, xã
Giáp, châu
Phường, thôn
|
Tổng diện
tích đất tự nhiên (mẫu)
|
Tỉ lệ
đất công (%)
|
Tỉ lệ đất hoang
nhàn, thần từ, mộ địa (%)(*)
|
Tỉ lệ
đất tư (%)
|
Lang Châu
|
697,2
|
45,9
|
3,0
|
51,1
|
Mỹ Xuyên Đông
|
601,4
|
77,2
|
18,4
|
4,4
|
Mỹ Xuyên Tây
|
438
|
79,5
|
19,9
|
0,6
|
Câu Lâu
|
428,8
|
59,0
|
6,0
|
35,0
|
Bà Mã Châu
|
364,3
|
0,0
|
21,0
|
79,0
|
Thi Lãi
|
321,5
|
54,5
|
3,1
|
42,4
|
Bàu Toán Châu
|
134,5
|
0,0
|
2,6
|
97,4
|
Hòa Quân
|
152,2
|
2,9
|
6,1
|
91,0
|
Mỹ Khê Tân
|
136,3
|
0,0
|
4,0
|
96,0
|
Mỹ Khê Cựu
|
129,6
|
0,0
|
1,3
|
98,7
|
(*) Đất hoang nhàn, thần từ, mộ địa được xem là đất công, tỉ lệ công điền
công thổ của làng Mỹ Xuyên Tây vẫn cao nhất tổng, nhất huyện, nhất phủ.

No comments:
Post a Comment