Làng Mỹ Xuyên được thành lập trước năm 1460
Ngược dòng lịch sử, vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng Châu Ô và Châu Rí (Lý) làm sính lễ xin cưới Công chúa Huyền Trân, lễ cưới được tổ chức vào tháng 6 niên hiệu Long Hưng thứ 14 (1306). Chiêm Thành giỏi thủy chiến, thường lấy sông lớn làm biên giới([1]) nên sau khi nghiên cứu thư tịch cổ, năm 1964, GS Đào Duy Anh cho rằng cực nam của Châu Rí đến bờ bắc sông Chợ Củi (Thu Bồn) chứ không phải đến đèo Hải Vân([2])&([3]). Nhà Trần đổi Ô, Rí thành châu Thuận và châu Hóa, cử Hành khiển Đoàn Nhữ Hài tới bổ nhiệm “người Việt mới đến” hoặc “người Chăm còn ở lại” quản lí vùng đất mới này.
Tháng 5 niên hiệu Hưng Long thứ 15 (1307), Chế Mân qua đời. Tháng 10 (1307) nhà Trần cử Hành khiển Thượng thư Trần Khắc Chung sang Chiêm Thành cướp Công chúa Huyền Trân về để khỏi bị lên giàn thiêu theo tục lệ Chiêm Thành([4])&([5]). Chiêm Thành cho đó là nỗi quốc nhục của đất nước họ. Từ nửa sau thế kỉ 14, quan hệ Chiêm Việt càng căng thẳng hơn, tiêu biểu như năm 1377 vua Chiêm là Chế Bồng Nga đã phục kích giết chết vua Trần Duệ Tông ở Đồ Bàn (Quy Nhơn ngày nay) và 4 lần Chế Bồng Nga tàn phá kinh thành Thăng Long nên vùng đất sính lễ Ô, Rí chưa được khai thiết đáng kể.
Các nhận định trên đây xuất phát đơn thuần từ các sử sách cổ thông qua quan điểm đậm màu giáo điều, bảo thủ của các sử gia thời phong kiến nên đã có một số hạn chế nhất định.
Nhiều thành quả nghiên cứu trong các thập niên gần đây của các sử gia ở trong và ngoài nước bằng “phương pháp tiếp cận mới”, vận dụng thành quả của các ngành khoa học khác vào nghiên cứu lịch sử (ví dụ vận dụng thành quả mới về bản đồ học, khảo cổ học, dân tộc học, nhân khẩu học, kết quả phân tích thổ nhưỡng các vùng miền, kết quả nghiên cứu về phong tục và tôn giáo ở nước ta và nước Chiêm Thành, khai thác kho tư liệu đồ sộ về Hán Nôm,... đặc biệt là đi điền dã thu thập tương truyền, thần tích, nghiên cứu gia phả, văn bia,... từ thực tế sinh động) nên ngành Sử học thời hiện đại đã đạt được các kết quả chính xác, khách quan hơn trong khoa học lịch sử.
Ví dụ như Tiến sĩ Huỳnh Công Bá đi điền dã thực tế rất nhiều địa phương ở bắc Quảng Nam, nghiên cứu hàng trăm quyển gia phả và thư tịch chữ Hán Nôm trong vùng, vận dụng kết quả phân tích thổ nhưỡng đồng bằng Hòa Vang và đồng bằng Thu Bồn của ngành địa chất (thì thấy rằng lưu dân có khuynh hướng vào định cư ở đồng bằng Thu Bồn trù phú hơn đồng bằng Hòa Vang,...) Sau khi nghiên cứu thư tịch cổ ở làng Bàn Thạch (Duy Vinh, Duy Xuyên), văn bia và tộc phả Tiền hiền ở làng Lang Châu (Duy Phước, Duy Xuyên), gia phả tộc Phan làng Đà Sơn (Đà Nẵng), tộc Trà (gốc Chăm) làng Phú Xuân viết về vấn đề “người Chăm ở lại sau đám cưới Huyền Trân & Chế Mân”, hàng chục thư tịch nói về việc di dân người Việt vào bắc Quảng Nam thời nhà Hồ (1402-1407) của tộc Phạm làng Hương Quế (Quế Sơn), làng Nông Sơn, Câu nhi, Thanh Hà,... nên Tiến sĩ Huỳnh Công Bá đã chứng minh có tính thuyết phục trước một Hội đồng gồm nhiều Giáo sư, Tiến sĩ, chuyên gia đầu ngành Sử học rằng “Bằng tư liệu địa phương, ít nhất 10 năm sau đám cưới Huyền Trân với Chế Mân đã có người Việt đến khai khẩn vùng đất bắc Quảng Nam, mà địa bàn khai phá diễn ra ở ngay phía nam sông Thu Bồn”([6]). (Cứ liệu A)Năm 1402, Hồ Quý Ly và con trai là Hồ Hán Thương đem quân đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm là Ba Đích Lại sợ hãi, xin dâng toàn bộ đất Chiêm Động (phía nam sông Thu Bồn đến Dốc Sỏi, là Quảng Nam ngày nay) để cầu hòa, nhưng Hồ Quý Ly bắt ép nên vua Chiêm phải dâng nộp thêm Cổ Lũy Động cho nước ta (nay là các huyện ở bắc Quảng Ngãi). Từ đấy (1402), bắt đầu xuất hiện các làng của người Việt ở phía nam cầu Bà Rén thuộc huyện Quế Sơn ngày nay.
Theo tài liệu Hội thảo “Vai trò lịch sử của làng Hương Quế trong công cuộc mở cõi” do Sở VH-TT-DL Quảng Nam tổ chức năm 2017 thì Phạm Nhữ Dực (1319-1409) được Hồ Hán Thương ban tước “Dực Nghĩa Hầu”, được sắc phong là Tiền hiền làng Đồng Tràm, mộ của ông hiện ở Đồng Tràm thuộc xã Hương An huyện Quế Sơn. Trước 1409 đã có các làng Việt ở Hương An, phía nam cầu Bà Rén thì tương truyền làng Mỹ Xuyên được thành lập từ khi Nhà Hồ sáp nhập Chiêm Động và Cổ Lũy vào lãnh thổ Đại Việt là đáng tin. (Cứ liệu B)
Theo các bộ chính sử cổ, giai đoạn đầu của thời Lê sơ (1428-1460) đã xảy ra việc sát hại công thần như Hữu tướng quốc Trần Nguyên Hãn bị giết năm 1429, Thái úy Lê Văn Xảo (1430), Tư khấu Lưu Nhân Chú (1434), Đại tư đồ Lê Sát và Nhập nội Đô đốc Lê Ngân (1437), Thừa chi nhập nội đại hành khiển Nguyễn Trãi (1442), Thái úy Lê Khả (tức Trịnh Khả), Tư khấu Lê Khắc Phục (1451),… Việc sát hại công thần được xem là “quốc loạn” khiến nhiều tướng sĩ và con cháu các công thần bất mãn hoặc sợ bị liên lụy truy sát nên đã dẫn tùy tùng và gia nô di cư vào vùng đất phía Nam đèo Hải Vân lánh nạn.
Đồng thời nhiều tướng sĩ trong 60 vạn quân đánh Chiêm Thành năm 1446 cũng ở lại Châu Ô, Châu Rí để lập nghiệp. Văn tế một số tộc “hậu hiền tiền thứ” (là thủy tổ các tộc giúp Tiền hiền lập làng Mỹ Xuyên lúc ban sơ) ở địa phương viết: “Do ngộ quốc loạn, tùng phụ nhi tẩu, đáo lai bổn xứ khai điền lập ấp, thác thổ khai biên.” (do gặp quốc loạn, bỏ chạy theo cha, đến xứ đất này khai hoang lập ấp, mở rộng biên cương). (Cứ liệu C)
Năm Thiệu Bình thứ 2 (1435), vua Chiêm Thành cử sứ bộ sang nước ta. Vua ta sai Lê Nhữ Lãm hỏi họ rằng: Đồng ruộng xứ Cổ Lũy vốn là đất của ta. Nhân lúc nước ta bị giặc Minh đô hộ, các ngươi cướp lấy để tự vỗ béo mình, tới nay vẫn không nói đến việc trả lại là tại làm sao?” ([7]) Chi tiết năm 1435 nhà Lê chỉ hỏi sứ Chiêm Thành về đất Cổ Lũy (nay là bắc Quảng Ngãi) mà không hỏi đất Chiêm Động (Quảng Nam), chứng tỏ vùng đất Chiêm Động đang thuộc quyền cai quản của nước ta, nghĩa là đã có nhiều làng Việt ở “đan xen thế da báo” với làng Chăm tại Quảng Nam trước năm 1435([8]).
Chiếu bình Chiêm của vua Lê Thánh Tông ban bố năm 1470 cũng chỉ nói về địa danh Cổ Lũy, không nhắc đến Chiêm Động: “Nương chốn Cổ Lũy như hang cầy, cậy thành Chà Bàn như tổ kiến”([9]). (Cứ liệu D)
Thực tiễn làng Mỹ Xuyên Đông và Mỹ Xuyên Tây thuộc tổng Uất Lũy (thời nhà Nguyễn thuộc tổng Mậu Hòa Trung) - là tổng của các làng “cựu trào” như Uất Lũy, Bàn Thạch, Lang Châu, Câu Lâu, Mông Lĩnh,... khai thiết lập xã hiệu sớm nhất, trong khi các làng tứ cận với Mỹ Xuyên như Thi Đông và Bà Mã Châu thì thuộc tổng Duy Đông; các làng Mỹ Cựu, Mỹ Tân, Vĩnh Lại, Long Xuyên, Hạc Toán, Phụng Tây, Phụng Đông lại thuộc tổng Mỹ Khê([10]). (Cứ liệu E)
Các cứ liệu (A), (B), (C), (D), (E) trên đây đã củng cố cho tương truyền ở 2 làng rằng làng Mỹ Xuyên đã được thành lập đồng thời với thôn Nam Cường (Lang Châu, Duy Phước, Duy Xuyên) trong thế kỉ 14, hoặc thành lập trong giai đoạn đầu thời Lê sơ, từ năm 1428 đến năm 1460, thuộc nửa đầu thế kỉ 15, đến nay đã ngót 600 năm.
([1]) Năm 1069 vua Chiêm Thành là Chế Củ đã dâng 3 châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh cho Đại Việt, cũng lấy sông Gianh làm biên giới chứ không phải Đèo Ngang chỉ cách bờ sông Gianh 27km.
([2]) Đào Duy Anh – “Đất nước Việt Nam qua các đời” (Nxb Khoa học, Hà Nội, 1964)
([3]) “Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558-1777” (Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1967, trang 67) Phan Khoang cho rằng cực nam của Châu Hóa thời xưa đến hết đất Duy Xuyên ngày nay.
([4]) Đại Việt sử kí toàn thư - Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb Văn hóa TT, 2003, Tập 2, trang 138 - 139
([5]) Xem bài “Nếu không giải cứu thì Huyền Trân có bị hỏa thiêu không?” ở phần IX, trang 141.
([6]) TS. Huỳnh Công Bá – “Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở vùng đất bắc Quảng Nam từ giữa thế kỉ 14 đến giữa thế kỉ 18” (Nxb Đà Nẵng, 2018, trang 20, 42, 43)
([7]) Đại Việt sử kí toàn thư (sách đã dẫn), trang 522
([8]) Có 500 năm như thế - Hồ Trung Tú – Nxb Đà Nẵng – 2006, trang 74
([9]) Đại Việt sử kí toàn thư (sách đã dẫn), trang 690
([10]) Địa chí Quảng Nam Đà Nẵng – Nxb KHXH, Hà Nội, 2010, trang 149-151



No comments:
Post a Comment