Cuộc giành đất giữa Mỹ Xuyên
Tây và Hà Mật năm 1930
Cuộc
tranh giành đất giữa 2 làng Xuyên Tây và Hà Mật diễn ra khoảng năm 1930 dưới
thời “Xã Huynh”, nhưng hiện đang lưu truyền nhiều cách kiến giải khác nhau, có
người cho rằng nhờ có một vị hòa thượng giỏi võ đã đứng ra hòa giải, người thì
cho rằng Xã Huynh đã “lấn trí” nên làng ta thắng kiện… Cho nên các nhân sĩ làng
Mỹ Xuyên Tây thấy cần một lời kiến giải chính xác cho sự kiện này.
Xã Huynh tên là Nguyễn Văn
Huynh, người tộc Nguyễn Văn. Ông Huynh sinh năm Đinh Dậu 1895, là người thông
minh dĩnh ngộ, đặc biệt là có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn
đề thực tiễn trong đời sống nên sớm được cử làm xã trưởng ở làng ta.
Do sông Thu Bồn chuyển dòng
từ phía Thi Lai sang phía Chợ Củi, khu dân cư Tây Hà và Mỹ Luân cản sức nước
nên nước lũ lụt ở dòng sông Kỉ Thế chảy rất chậm (các cụ gọi là nước “vịnh”) nên phù sa có thời gian lắng đọng, bồi
lấp rất nhanh dòng sông Kỉ Thế như trong bài thơ của Thông Thoại, những chỗ “đang
bị bồi lấp” thì chỉ gieo trồng được một mùa nắng ráo, còn mùa mưa thì phù sa
bồi đắp thêm hằng năm làm xóa nhòa bờ vùng bờ thửa, nên nảy sinh sự tranh chấp giữa nông dân hai làng. Lúc
đầu sự tranh chấp chỉ diễn ra ở xứ đất Bàu Đụng, nhưng sau đó tranh chấp cả xứ
đất Thuỷ Nhai (nhai là “bờ”, Thủy Nhai là
“bờ nước”) vốn được nông dân Xuyên Tây chiếm hữu trong giai đoạn đầu sông
Kỉ Thế bị bồi lấp, đã lâu.
Điểm đỉnh của sự tranh chấp
là mỗi bên luôn cắt cử người có võ nghệ canh gác cả ngày lẫn đêm để chống bên
kia tự cắm mốc và đã xảy ra đánh nhau làm chết một người ở chỗ đìa Tân Trưng. Vì
thế xã trưởng của 2 làng bèn đệ đơn lên quan của 2 huyện/phủ xét xử.
Mỗi xã phải làm một ngôi nhà
“quan cư” bằng tranh tre ở gần vùng đất tranh chấp để các quan huyện và tùy
tùng nghỉ chân. Các cụ còn nhớ quan Tri huyện Duy Xuyên là Phan Thành Kỷ (cháu của Phan Thanh Giản) còn quan Tri
phủ Điện Bàn là Tôn Thất Gián.
Khi cùng đi quanh vùng đất
tranh chấp, quan Tri phủ Điện Bàn phán: “Hoành
độ trụ quá Ông Đô” (Ông Đô gồm 2 xứ
đất Đô Nam và Đô Bắc, giáp Mỹ Xuyên Đông và Hà Mật). Một bác nông dân đi theo
đoàn nói một câu “có nhiều cách hiểu” nên bị quan Tri phủ Điện Bàn tát một tai.
Thật ra bác nông dân ấy là người được vua ban hàm “Bát phẩm văn giai” tên là
Văn Bá Xưng, tục gọi là Bát Xưng, ở xóm Mỹ Đô, Xuyên Tây. Quan Tri huyện Duy
Xuyên bèn bắt lẽ: “Sao quan Tri phủ Điện Bàn lại đánh dân tôi, “vuốt mặt cũng
phải nể mũi chứ?” Quan Tri phủ Điện Bàn phân bua: “Ngài thông cảm, tính tôi
nóng!” Quan huyện Duy Xuyên nói: “Ngài nóng còn có tôi lạnh!” Đúng là “Quảng
Nam hay cãi”!
Khi xem xét sổ địa bạ của
mỗi làng, thì Sổ địa bạ làng Xuyên Tây có vẽ bản đồ cả vùng tranh chấp với tổng
diện tích là 5 mẫu ta, có ghi rõ số đo từng thửa điền thổ, có tên người được
cấp đất. Còn Sổ địa bạ của làng Hà Mật thì chưa vẽ bản đồ và chưa biết số đo
diện tích vùng tranh chấp. Sau khi đo đạc thực tế thấy các số liệu ở Sổ địa bạ
làng Xuyên Tây là chính xác nên đại diện hai huyện kí biên bản chấp nhận ranh
giới như đã vẽ trong sổ địa bạ của làng Mỹ Xuyên Tây.
Người dân Mỹ Xuyên Tây đặc
biệt yêu mến “Xã Huynh” do ông là người có năng lực vận dụng kiến thức để giải
quyết các vấn đề thực tiễn trong đời sống. Ví dụ ông vừa đi vừa đếm số bước
chân mỗi cạnh và chiều cao của một thửa vườn hình thang rồi tính nhẩm nhanh ra
đúng diện tích thửa vườn đó, như tính toán bằng bàn tính của người chưởng bạ!
Việc ông đôn đốc vị chưởng bạ trong Hội đồng kì mục kịp thời vẽ vào Sổ địa bạ
sơ đồ các khoảnh đất vừa bồi lấp mà nông dân Xuyên Tây chiếm hữu ngay sau mỗi
mùa lũ lụt đã giúp làng ta thắng kiện, giúp nông dân làng ta toàn quyền sở hữu
2 xứ đất là Bàu Đụng (có lẽ là nơi đụng
độ giữa 2 làng) và Tân Trưng (trưng công sau khi thắng kiện).
Người kể: Cụ Nguyễn Thế Khiêm (sinh 1913, còn tại
thế ở Mỹ Đô)
Cụ Nguyễn Văn Sính (Mỹ Quang)

No comments:
Post a Comment