Các xứ đất, cồn mã, bàu sở, bến bãi, ao đìa gắn bó với người dân Mỹ
Xuyên Tây
Làng Mỹ Xuyên Tây có 4
xóm là Mỹ Đô, Mỹ Thành, Mỹ Quang và Mỹ Hòa. Trong mỗi xóm có thể có nhiều
“lân”, như:
- Mỹ Thành có các lân: Mỹ Giang, Mỹ Điền,
Mỹ Phường,…
- Mỹ Đô có các lân: Mỹ Lộc, Tứ Mỹ, Mỹ
Thiện, Mỹ Lân…
- Mỹ Quang có lân Mỹ Ngọc,
Mỹ Thuận, Mỹ Tân, Mỹ Luân,...
Đồng thời mỗi xóm gắn bó với
tên một “xứ đất” gồm bàu nước và cồn mã, như Mỹ Đô thì có Cồn Đô và Bàu Đô; Mỹ
Quang có Cồn Trên và Bàu Sen; Mỹ Hòa có Bàu Răm xứ, Bàu Côn xứ, Bàu Sen Tân
Kiều xứ; Mỹ Thành có Cồn Leo xứ,…
Từ xưa đến nay ở làng MXT, khi cúng tế ở
gia đình và ở các đình miếu (đình làng,
miếu xóm, miếu lân, các nhà thờ tộc), sau khi khấn quốc hiệu, niên hiệu,
tên tỉnh, huyện, xã, người chánh bái còn khấn xứ đất thời xưa là “nguyên Mỹ
Xuyên Tây xã, Cồn … Bàu… xứ”. Việc khấn xứ đất thể hiện một nét văn hóa tri ân
tiền nhân, đồng thời tin rằng các thần linh và vong linh khi nghe khấn xứ đất
cũng sẽ “về” đúng nơi cúng tế để chứng giám và “đồng lai chứng hưởng”.
Nói đến các xóm Đô, Thành,
Quang, Hòa là nói đến nơi cư trú trên các mảnh vườn ở bên trong các xóm, nhưng
đất sản xuất thì không gắn với khu dân cư, cụ thể là thời phong kiến nông dân ở
xóm Mỹ Thành có thể phải nhận đất ở “Bãi Trên” bên kia sông giáp Duy Trung hoặc
giáp Hà Mật theo kết quả bốc thăm chia đất 3 năm/lần.
Khi nhánh
chính của sông Thu Bồn chuyển sang phía sông Chợ Củi thì dòng sông Kỉ Thế bị
bồi lấp nhánh chóng tạo thành các xứ đất mới gồm Vạn Loan, Gò Gùi, Xác Chè,
Thủy Nhai, Đống Trái, Tân Trưng, Bắc Tư Thổ, Sa Học Điền, Túc Thổ, Giang Tâm,
Gò Lúa, Bãi Trên, Gò Sạn, Gò Cừ, Phá Trước, Bàu Đụng, Đông Tây Đạt, Bắc Hà Mật, Bạn Hạn, Thi
Thượng, Tre Làng, Đô Nam, Đô Bắc. Chỗ giáp giới giữa 3 làng có cây mốc gọi là
“Tam ngung” (ba góc). Xứ đất ở các
nơi khác như: Nam Thanh Miêu, Đông Nguyễn Chánh, Đông Ông Độ, Đông Hương Dụng, Bàu
Chùa, Đìa Làng,…
Một số xứ đất được đặt tên
theo mục đích sử dụng như khoảnh đất có tên là Bịt Trống dùng “phát canh thu
tô” để lấy tiền bịt trống, đất Lễ Điền để cấp cho người lo nghi lễ tế tự, đất
Lương Điền cấp cho người đi lính, đất Học Điền để lo việc xây trường, trả lương
thầy hoặc chu cấp cho các thí sinh đi thi Hương; đất Nhạc Điền cấp cho ban nhạc
cổ; đất Tộc Thổ cấp cho các tộc để có tiền lo tế tự ở nhà thờ tộc, đất Dỏ (Võ,
Giõ) để chi cho người canh phòng ở các vọng gác,…
Đất và nước gắn bó mật thiết
với nhau nên không thể không nhắc đến các hục, ao, đìa lón nhỏ trong làng.
Trước hết phải kể đến Đìa
Làng: Từ thế kỉ 19 về trước, khi đình làng ta quay về hướng Bắc (vẫn còn dấu tích một giếng gạch cổ cách
đình 100m về phía bắc) thì có dòng sông Mãi Xuyên ở phía trước đình nên đã
đảm bảo “phong thủy”. Từ đầu thế kỉ 20, khi ngôi đình quay về
hướng Nam, phía trước là đồng ruộng Bàu Tĩnh cũng có nước, nhưng một thầy phù
thủy Minh Hương (người Tàu) coi ngó kĩ lưỡng “con đất” rồi khuyên làng ta nên
đào một cái đìa lớn ở phía nam, cách cổng đình 100m, gọi là Đìa Làng, vừa để
tưới nước cho ruộng đất, vừa đảm bảo phong thủy cho đình làng. Mãi đến đầu thế
kỉ 21, do nhiều năm không được nạo vét nên hiện nay nó gần như bị bình địa.
Trong làng có một số ao,
hục, đìa đủ nước để lắp xe đạp nước, xe trâu (trâu đạp nước thay người) như Hục Suất ở xóm Mỹ Hòa; Hục Bến Miễn,
Hục Thất, Hục Bà Hoan ở xóm bãi Mỹ Quang; Đìa Cương, Đìa Làng ở Mỹ Thành. Có nhiều ao, đìa đủ
nước để nhiều cặp cùng tát gàu đôi gàu ba, có thể là của riêng một gia đình địa
chủ, nhưng thường lấy tên một người nào ở gần đó để gọi tên, như Đìa Thuận, Đìa
Mè, Đìa Tân Trưng, Đìa Lì, Đìa Tịnh, Đìa Tranh, Đìa Tự,…
Cũng có một số ao đìa không
mang tên người, như xóm nào cũng có chung một đìa, gọi là Đìa Xóm; cũng có ao
đìa ở gần một cây cổ thụ hoặc xứ đất, như Đìa Gốc Gáo, Đìa Tân Trưng,… Cũng có
đìa lấy tên chất lượng nước, như Đìa Thúi ở gần Bãi Trên, nước có mùi thúi
quanh năm, có lẽ vì một lí do địa chất thổ nhưỡng nào đó.
Xã hội ngày càng giảm dần
người làm nông, hoặc sẽ “dồn điền đổi thửa” để tiến lên sản xuất hàng hóa quy
mô lớn nên tên các xứ đất, ao, hục, đìa rồi cũng sẽ bị quên lãng. Tuy nhiên mỗi
xứ đất đều ẩn chứa một kỉ niệm, một ý nghĩa mang tính đặc trưng Mỹ Xuyên Tây,
cho nên các cụ cao niên vui mừng khi được kể lại để hậu sinh thêm yêu quý quê
cha đất tổ dù có sinh cơ lập nghiệp ở muôn phương.
Huỳnh Bá Tường (Mỹ Đô) – Văn Bá Chấn (Mỹ Quang)
Trần Văn An (Mỹ Thành)

No comments:
Post a Comment