Post Page Advertisement [Top]

Phân biệt “Tả / Hữu”, “Đông / Tây” theo cách của người xưa


Phân biệt “Tả / Hữu”, “Đông / Tây” theo cách của người xưa
Bên tay trái là bên Tả, hoặc bên Đông, còn bên tay phải là bên Hữu, hoặc bên 西Tây. Đặt hoa quả ở bàn thờ phải theo “Đông bình Tây quả”. Tưởng tượng rằng vị Thần (Tổ tiên, Phật) đang tọa trên bàn thờ nhìn ra, phía tay trái của v Thần là bên Tả hoặc Đông, đặt bình hoa phía ấy, còn nải quả đặt phía Hữu là phía tay phải hoặc Tây của vị Thần. Dù căn nhà nhìn về hướng nào cũng vẫn lấy vị Thần ở bàn thờ làm chuẩn về Tả/Hữu, Đông/Tây.
Tấm bia cổ ở đình làng ta có ghi “hữu quả cư Nguyễn Thị, Nguyễn Thị đồng phụng nhất bách quan thường niên”, chữ “hữu” khắc trong Tấm bia đó có nghĩa là “bên phải” (chứ không phải chữ hữu là “có” hoặc hữu là “bạn hữu”), nghĩa là 2 quả phụ đó quê ở “hữu ngạn” sông Mãi Xuyên (tục gọi là sông đào) cùng cúng mỗi năm 100 quan (6 năm = 600 quan) để xây Nhà Hội hương họp làng.
Vậy hữu ngạn sông Mãi Xuyên là Xuyên Tây hay Xuyên Đông? Muốn biết, ta phải “lấy vị Thần sông Mãi Xuyên ở đầu sông làm chuẩn”, Thần đang ở đầu sông chỗ Miếu Ông của xóm Mỹ Đô, Ngài nhìn theo dòng nước chảy xuống phía chợ Cây Đa. Bên “Hữu” là bên “tay phải” của Thần sông Mãi Xuyên, vậy 2 quả phụ ấy ở Hữu ngạn sông Mãi Xuyên, là dân của làng Mỹ Xuyên Tây. (còn “Tả ngạn” Mãi Xuyên là Xuyên Đông). Tương tự, Tả ngạn sông Thu Bồn ngày nay là phía Điện Bàn, Hữu ngạn Thu Bồn là phía Duy Xuyên.
Trong đám cưới, Nhà Trai ngồi phía nào cho đúng “nam Tả nữ Hữu”? Ta phải lấy Ông Tơ Bà Nguyệt ở “bàn thờ Tơ hồng” đang nhìn ra 2 Họ làm chuẩn. Vậy Nhà trai phải ngồi phía bên tay trái của Ông Tơ Bà Nguyệt là đúng “nam Tả”. Biết thế, nhưng khi “đi Họ”, Họ nhà bên kia bố trí ta ngồi phía nào thì ta ngồi phía ấy, không cãi!
Trong một đoàn quân đánh giặc có 3 “cánh quân” là Tả quân, Hữu quân và Trung quân. Vua (hoặc Tướng) ra lệnh: Tả quân xông lên, hữu quân lùi lại! Vậy “Tả quân” là cánh quân phía nào? Phải lấy ông Vua hoặc Tướng làm chuẩn, cánh quân bên tay trái của ông Vua/Tướng là “Tả quân” phải xông lên, nếu hiểu nhầm Tả/Hữu thì có thể bại trận, vỡ trận ngay!
Một số Miếu Xóm mới xây ở làng ta và làng bạn đã viết “nhầm bên” 2 bàn thờ “tả ban” và “hữu ban”, có lẽ vì không lấy vị Thần ở bàn giữa đang nhìn ra làm chuẩn,  bàn thờ “Tả ban” phải ở phía tay trái của vị Thần. (Hình: Viết “nhầm bên” bàn “tả ban” và “hữu ban”)
Người xưa quy ước bên Tả “lớn hơn” bên Hữu. Hậu hiền được xem là “lớn hơn” Tiền bối nên bàn thờ Hậu hiền ở bên Tả của ngài Tiền hiền đang nhìn ra (chứ không phải ở bên Tả của người sống đang nhìn vào). Khi lễ sanh xướng rằng: “Chánh bái, Tả hữu phân hiến tựu vị”, thì Chánh bái vào bàn thờ Tiền hiền, Tả phân hiến vào bàn thờ Hậu hiền, còn Hữu phân hiến vào bàn thờ Tiền bối.
Khi đặt bàn thờ ở sân Đình, sân Nhà thờ tộc để “cúng ngoài”,  thì lúc ấy vị Thần đang ở phía bình phong nhìn vô, bình hoa và li “nước trong” (nước lạnh) phải đặt phía tay trái của vị Thần. (Li “nước trong” ấy là chữ “thủy” trong ngũ hành “kim, mộc, THỦY, hỏa, thổ” là tôn thờ mầm sống trên Trái Đất, vì nếu không có nước thì không có sự sống (chứ không phải là nước để các vị Thần “tráng miệng”).
Nói: “chuối quay ra, gà quay vô”, thì phải hiểu rằng cái cuộn của nải chuối và cái đầu của con gà phải quay về phía vị Thần.
Tế Thanh minh ở đình làng ta thường có con heo quay, thì đầu heo phải quay về phía vị Thần. Nhưng tôi đề nghị nên “tể” con “heo quay” ra, đặt “đầu heo, 4 bàn chân, cái đuôi, huyết” (tượng trưng cho cả con heo) vào một đĩa lớn và vài đĩa thịt quay ở bàn thờ Tiền hiền, còn lại thì “tể” ra đặt ở các bàn thờ Hậu hiền và Tiền bối để ai cũng được “Đồng lai chứng hưởng”, như có ghi trong Văn tế, chứ các vị Hậu hiền và Tiền bối không dám thò đũa sang bàn thờ Tiền hiền…!
Đồng thời lễ sanh nên xướng là “Nghinh Thần cúc cung bái” chứ không nên đọc là “Nghinh Tiền hiền cúc cung bái” như ở vài đình làng khác, vì phần “Cảm cáo vu” trong Văn tế ở đình làng ta có ghi tên nhiều vị Thần được nghinh đón chứ không phải chỉ có ngài Tiền hiền (Tiên thánh đế Thần Nông chi tôn thần. Hậu Tắc chi tôn thần. Tiền hiền Chánh Đề đốc Hùng Long Hầu Lê Quý Công chi thần vị. Hậu hiền khai canh liệt vị.  Bổn xứ Thành Hoàng đại vương tôn thần. Đương cảnh Thổ địa phước đức chánh thần. Tiền bối Chư Tộc Phái dự hữu công đức giả tùng tự. Tả ban liệt vị, Hữu ban liệt vị.) Tất cả các vị Thần đó  Đồng lai chứng hưởng chứ không phải chỉ “nghinh” ngài Tiền hiền!). Vì thế, nên “tể” con heo quay ra đặt ở các bàn thờ.
Trên đây là quy ước của người xưa, có ghi trong sách “Việt Nam phong tục” do Cử nhân Phan Kế Bính viết năm 1906, sách “An Nam phong tục sách” do Mai Viên Đoàn Triển viết năm 1920 để chúng ta vận dụng vào giải thích nhiều vấn đề trong thực tiễn liên quan đến Tả - Hữu, Đông – Tây, ví dụ nói “Đông chinh Tây cổ” thì khi cúng ngoài sân, ta đặt cái chiêng ở bên Tả: tay trái của vị Thần, khi cúng bên trong hậu tẩm thì phải đổi bên chiêng trống để chiêng đúng bên Tả, trống bên Hữu của vị Thần; Hoặc cờ Tổ quốc “lớn” hơn cờ Đảng (búa liềm), nên khi lễ đài có cả 2 loại cờ thì cờ Tổ quốc được treo bên tả, tức là bên tay trái của tượng Bác Hồ, cờ Đảng bên hữu.
Xin được đăng trong mục “Thảo luận về việc làng Mỹ Xuyên Tây” để Ban trị sự xem xét, thảo luận và nhất quán thực hiện. Ÿ
Trần Văn Hảo - Tri lễ Ban Trị sự làng

No comments:

Post a Comment