TỪ MIẾU CÂY ĐA ĐẾN ĐỀN THỜ TỔ - SỰ LỪA DỐI SIÊU ĐẲNG
Đại tá, PGS.TS.Trần Văn Luyện
Chánh văn phòng HĐHT VN
Tác giả :luyentv1960@gmail.com
Tại thôn Phương La, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà có “Miếu cây đa” biến thành “Đền nhà ông”, rồi thành “Đền thờ tổ học Trần Việt Nam”. Đây là di tích không được xếp hạng mà có thể mời các lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đến thăm viếng. Hành trình của sự dối trá này là gì?
1. ÔNG DƯƠNG QUẢNG CHÂU ĐÃ HƯ CẤU NHÂN VẬT TRẦN HOẰNG NGHỊ TỪ SỰ SAI LẦM VỀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
Trong bài tham luận “Trần Thủ Độ với Thái Bình” tại hội thảo ngày 26/4/1994 do
Viện Sử học và Sở Văn hóa, thể thao tỉnh Thái Bình tổ chức (in sách năm 1995),
ông Dương Quảng Châu đã đưa ra nhận định: Trần Thủ Độ là con của Trần Hoằng
Nghị. Chưa có cơ sở để xác định động cơ việc sai lầm của ông Dương Quảng Châu,
nên tôi cho rằng đó là sự non nớt về phương pháp nghiên cứu lịch sử, thể hiện
các điểm sau:
1. Bỏ qua những công trình của các sử gia ở các triều đại trước
Các công trình lịch sử thời Trần, Lê sơ, Nguyễn và các sử gia nổi tiếng như Lê
Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Lê Tắc, Ngô Sĩ Liên, Lê Qúy Đôn... cũng đều không cho
biết thân phụ của Trần Thủ Độ là ai. Các bộ sử xưa chỉ ghi “Trần Thủ Độ mồ côi
cha mẹ từ bé, ở với bác là Trần Lý tại Lưu Gia Trang”. Nghiên cứu các sự kiện
lịch sử đã xảy ra khoảng 800 năm mà ông Châu bỏ qua các công trình của các sử
gia nổi tiếng.
2. Bỏ qua đặc điểm địa hình và dấu mốc thời gian các sự kiện liên quan
Sử xưa cho biết Trần Thủ Độ sinh năm 1194 ở Lưu Gia, Tinh Cương, hương Đa Cương
(nay là làng Lưu Xá, xã Canh Tân, Huyên Hưng Hà, Thái Bình) mất năm 1264, thọ
71 tuổi. Theo Bản đồ địa hình của Tập bản đồ nông nghiệp Thái Bình thì Làng
Phương La là khu vực thấp trong xã Thái Phương. Làng Mẹo (Phương La ngày nay)
được tách ra sau cùng của xã, quả chuông lớn của chùa Linh Ứng (làng Mẹo) được
đúc vào năm 1783 (sau khi thành lập làng mới). “Vì làng lập mới vào năm Ất Mão
(khoảng năm 1675, triều vua Lê Hy Tông, hoặc sớm hơn thì có thể vào năm 1615
triều vua Lê Kính Tông), nên tên chữ của làng lúc đầu là Ứng Mão, sau gọi là
Hương la, rồi sau này mới đổi tên là Phương La” . Điều này là logic và hợp lý
vì đặc điểm các khu dân cư thời xưa là ở trên các khu vực cao để tránh lũ lụt,
những khu dân cư mà ở khu vực trũng và thấp thường được hình thành sau này.
Vì các bộ sử ghi Trần Thủ Độ mồ côi cha mẹ từ bé, ở với bác là Trần Lý. Như
vậy, cha mẹ Thủ Độ đã mất gần với thời điểm sau khi sinh Trần Thủ Độ, tức vào
thời điểm sau năm 1194. Trong khi Làng Mẹo (Phương La ngày nay) thành lập sau
đó gần 500 năm (năm 1675 hoặc năm 1615) đình làng có sắc phong, đặc biệt là sự
kiện đúc chuông làng Mẹo năm 1783. Đặc điểm nổi bật của làng cổ Việt Nam là sau
khi thành lập một làng mới, thường xây đình, đền (miếu) để thờ thành hoàng
làng, đúc chuông như là một vật thiêng trong làng, đây là nơi sinh hoạt cộng
đồng.
Như vậy, rất khó có thể xảy ra bố Trần Thủ Độ chôn cất ở một ngôi làng mà sau
hơn 500 năm mới lập làng!
3. Đưa ra giả thuyết thân phụ của Thái sư Trần Thủ Độ là Hoằng Nghị Đại vương -
Trần Hoằng Nghị bằng phương pháp điền dã mơ hồ
Vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, rất nhiều hội thảo khoa học về nhà Trần đã
được tổ chức. Tuy nhiên, mãi đến Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 800 năm ngày
sinh Danh nhân Trần Thủ Độ (1194 - 1994), lần đầu tiên ông Dương Quảng Châu đưa
ra giả thuyết thân phụ của Thái sư Trần Thủ Độ là Hoằng Nghị Đại vương - Trần
Hoằng Nghị. “Tìm hiểu các bài viết của cụ Dương Quảng Châu về thân thế, cha mẹ,
anh em của Trần Thủ Độ, chúng ta sẽ thấy rối bời như sa vào mạng lưới tơ giăng,
càng gỡ thì càng thấy khó hiểu bởi sự không nhất quán, thiếu tính khoa học trong
nghiên cứu của cụ” . Ông Dương Quảng Châu đưa ra nhân vật Trần Hoằng Nghị nhưng
không có cứ liệu lịch sử nào mà chỉ bằng phương pháp nghiên cứu điền dã. Tuy
nhiên, tư liệu thu được bằng phương pháp điền dã (qua lời truyền kể) cũng thiếu
thuyết phục bởi các bài viết của ông đều không đưa được người cung cấp tư liệu
cụ thể là ai, bao nhiêu tuổi và địa chỉ ở đâu, có lẽ vì ông sợ các nhà nghiên
cứu chân chính điều tra lại thì lộ trò dối trá. Ông Dương Quang Châu viết: “các
bô lão ở Trực Nội vào vùng Động Núi được các bô lão địa phương cho biết: Theo
thần phả, An Hạ vương là con trai thứ hai Trần Hoằng Nghị đại vương, em An Quốc
vương, là anh Trần Thủ Độ”. Nhưng khi kiểm tra thần phả thì không có. Cha ông
ta đã dạy “tam sao thất bản”, “lời nói gió bay” nên các tư liệu của ông Châu
đưa ra đầy mâu thuẫn và thiếu tính logic khoa học.
Vậy, ông Dương Quảng Châu là ai? Ông là người không có nghiệp vụ chuyên môn về
nghiên cứu lịch sử, về hưu làm cộng tác viên của Ban Nghiên cứu lịch sử Tỉnh ủy
và Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Bình. Ông Dương Quảng Châu đưa ra nhận định
về Trần Hoằng Nghị và cho rằng Trần Hoằng Nghị là thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ
đều không có cứ liệu lịch sử từ khảo cổ, văn bia, sắc phong, thần tích, thần
phả…
4. Thần phả, thần tích ở đình làng Xuân La, Phương La xã Thái Phương thì Trang
nghị Đại Vương là một thiên thần (nhân vật thần thoại)
Nhà nghiên cứu Đặng Hùng viết: “Thực tế khảo sát điền dã ở làng Mẹo (Thái
Phương, Hưng Hà), chúng ta đã thấy rõ đền đình ở đây thờ lục vị thần hoàng
(những vị thần hoàng này không có ai là họ Trần như một số người lầm tưởng); và
cũng không thờ vị nào tên là Trần Hoằng Nghị được tôn làm thần hoàng hay phúc
thần của làng. Nhân vật được thờ ở làng Xuân La và Phương La là “Trang Nghị Đại
Vương”. Đây là nhân vật mà một số nhà nghiên cứu cho rằng đó là Trần Hoằng
Nghị, nhưng theo thần phả, thần tích ở đình làng Xuân La thì Trang nghị Đại
Vương là một thiên thần (con thần Sấm) được vua Đường Trung Quốc và Cao Biền
phong cho chứ không phải là nhân thần” .
Như vậy, thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ không thể là một nhân vật thần thoại
được, không thể là Trang Nghị Đại vương như ông Dương Quang Châu và ông Nguyễn
Minh Tường ngộ nhận.
5. Trần Thủ Độ là ai?
Trần Thủ Độ là người có công lớn dựng cơ nghiệp triều Trần, là Thượng phụ Thái
sư Trung vũ Đại Vương. Có thể nói ông là người có quyền lực át cả vua. Đại Việt
sử ký toàn thư viết: “Thái Tôn lấy được thiên hạ đều là nhờ mưu sức của Thủ Độ,
cho nên nhà nước phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua” . Lê Quý Đôn chép trong Kiến
văn tiểu lục là: “Trần Thủ Độ sau khi chết, chôn ở địa phận xã Phù Ngự, huyện
Ngự Thiên, nơi để mả có hổ đá, giơi đá, chim đá và bình phong bằng đá, chỗ đất
ấy rộng đến hai mẫu, cây cối um tùm. Về tự điển, trước vẫn liệt vào hạng thượng
đẳng, các quan phủ, huyện, huấn, giáo đến kính tế …” .
Trần Cảnh lên ngôi, lâu ngày chưa có con, bị Trần Thủ Độ ép lấy chị dâu (vợ của
Trần Liễu) khi đang có thai 3 tháng. Vua không đồng tình đã bỏ lên chùa trên
núi Yên Tử. Trước sự cứng rắn và khôn khéo của Trần Thủ Độ: “Vua ở đâu thì kinh
thành ở đấy” nên cuối cùng vua cũng phải về kinh thành. Cuộc ép duyên này đã
gây phản ứng, binh biến của Trần Liễu (bố Trần Hưng Đạo). Trần Thủ Độ còn là
người bức tử Lý Huệ Tông để lấy Trần Thị Dung là chị họ, mặc dù Trần Thị Dung
đã là Hoàng hậu của Lý Huệ Tông.
Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi: “Trần Thủ Độ tuy làm tể tướng, nhưng mọi việc
không việc gì là không để ý tới”.
Có thể nói những việc “long trời lở đất” mà Trần Thủ Độ còn làm được. Vậy với
tính cách của Trần Thủ Độ như vậy, sao ông không xây lăng mộ bố mẹ mình cho
thật to và sắc phong công trạng… Có phải nhà Trần quên ơn và đặc biệt Trần Thủ
Độ quên công lao người cha đã sinh ra mình hay sao? Thế mà ông Dương Quảng Châu
bịa ra rằng: Trần Hoằng Nghị khai hoang, lập ấp, dạy dân làm nghề, mở chợ, buôn
bán… và là người thân sinh ra Trần Thủ Độ. Nhận định này không có bất kỳ tư
liệu lịch sử, thần tích, văn bia nào chứng minh.
Xét về tư liệu lịch sử để lại từ Lê Văn Hưu, sử gia thời Trần; Phan Phu Tiên,
Ngô Sĩ Liên thời Lê đều ghi: Trần Thủ Độ mồ côi cha mẹ từ bé và ở với bác là
Trần Lý, không ghi rõ bố mẹ ông là ai. Điều này cũng rất lôgic và phù hợp với
Đại việt sử ký toàn thư viết: Thủ độ không có học vấn… nghĩa là không được học
hành khoa bảng vì bố mẹ mất sớm.
Như vậy, Trần Thủ Độ là người đa mưu, quyết đoán, mạnh mẽ và nặng tình. Trần
Thủ Độ là người như vậy, có thể nói ông sẵn sàng làm tất cả mọi việc nếu có thể
tìm được mộ của bố mẹ mình! Thế nhưng trong các công trình lịch sử đều không
ghi gì. Xét về đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc và tình “mẫu tử”, nếu
thật sự bố mẹ Trần Thủ Độ không mất sớm mà chỉ cần xác định được mộ và có chút
công lao thật sự (dù là bé nhỏ) thì các vua Trần nói chung và trực tiếp là Trần
Thủ Độ sẵn sàng ra các sắc phong cho cha, mẹ ông. Đây là điều lôgic lịch sử và
đạo lý.
Điều này chỉ có thể lý giải và khẳng định: “Trần Thủ Độ mồ côi cha mẹ từ bé, ở
với bác là Trần Lý tại Lưu Gia Trang” là chính xác, nên ông cũng không thể biết
được nơi chôn cất bố mẹ mình ở đâu. Đến Trần Thủ Độ cũng không xác định được mộ
của bố mẹ mình thì việc ông Dương Quảng Châu tìm ra bố của Trần Thủ Độ là Trần
Hoằng Nghị và nơi chôn cất chỉ là sự hư cấu, ảo tưởng! Với lối suy nghĩ dân dã:
Bố nào con nấy, Trần Thủ Độ giỏi như vậy, hà tất bố Trần Thủ Độ cũng phải rất
giỏi. Thế là mở màn cho hành trình đi tìm bố Trần Thủ Độ. Tôi cho rằng đây là
sự sai lầm, ấu trĩ về nghiên cứu lịch sử của ông Dương Quảng Châu.
Ghi chú :
Đặng Hùng, Long Hưng đất phát nghiệp vương triều Trần, (được giải thưởng văn
học nghệ thuật Lê Quý Đôn tỉnh Thái Bình) NXB Hội Nhà văn, 2018, tr.124.
Đặng Hùng, Long Hưng đất phát nghiệp vương triều Trần, NXB Hội Nhà văn, 2018,
tr.326.
Đặng Hùng, Long Hưng đất phát nghiệp vương triều Trần, NXB Hội Nhà văn, 2018,
tr.49, 50.
Đại Việt sử ký toàn thư tập II. Nxb KHXH, Hà Nội, 1971; tr.36.
Lê Quý Đôn toàn tập tập II. Nxb KHXH, Hà Nội, 1977; tr. 439.
( còn nữa)

No comments:
Post a Comment