Post Page Advertisement [Top]

Mộc bản triều Nguyễn cho biết nhánh chính sông Thu Bồn chuyển dòng từ phía Cầu Bà Rén sang Cầu Mống


Mộc bản triều Nguyễn cho biết nhánh chính sông Thu Bồn chuyển dòng từ phía Cầu Bà Rén sang Cầu Mống
Vua Minh Mạng lệnh đào sông Vĩnh Điện 2 lần vào năm 1823 và 1824 làm cho nước từ Giao Thủy tuôn chảy về nhánh phía Bắc, làm cho nhánh chính của sông Thu Bồn phải chuyển dòng.
Trong sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” (Nxb Khoa học, H, 1964), GS Đào Duy Anh cho rằng cực nam của châu Rí là bờ bắc sông Chợ Củi, tức là chỉ đến Cầu Mống của huyện Điện Bàn ngày nay. Nhưng nhờ Mộc bản triều Nguyễn được công nhận là Di sản tư liệu thế giới năm 2009 nên chúng ta mới biết rằng nhánh chính sông Thu Bồn từ thời vua Gia Long về trước chảy từ Giao Thủy về phía sông Dưỡng Chân, nên cực nam của Châu Rí đến cầu Bà Rén.
Vào năm 1906, vua Thành Thái lệnh cho Quốc sử quán dựa vào bản chép tay dưới thời vua Tự Đức để “bổ biên” theo thực tế thành sách Đại Nam nhất thống chí rồi được khắc mộc bản dưới thời vua Duy Tân, hiện còn lưu mộc bản ở Trung tâm lưu trữ tại Đà Lạt.
Lúc “bổ biên” theo thực tế bồi lấp thì nhánh chính của dòng sông Thu Bồn đã chuyển sang phía Chợ Củi, dòng sông Kỉ Thế còn được khắc tên nhưng sông Lang Châu và sông Mãi Xuyên không còn được chép tên trong Đại Nam nhất thống chí thời vua Thành Thái nữa, cụ thể là ở tấm gỗ mộc bản ở hình dưới đây:
Ban Văn thư làng Mỹ Xuyên Tây đánh số thứ tự các cột chữ và phiên âm như sau:
Từ cột chữ Hán số 1 đến hết cột chữ số 6 đọc là:
(Vu) Da giang đại tiểu nguyên nhị. Nam vi đại giang, nguyên hữu nhị: nhất tòng Tả trạch phát nguyên vi Bông giang nhất danh Ma Vương giang; nhất tòng Thu Bồn nguyên Man động trung, phát nguyên vi Ô Bà giang, chí Hòa Vang huyện, Đồng Hoạch phường nhi hợp vi đại giang. Bắc vi tiểu giang, nguyên diệc hữu nhị: Lỗ Đông nguyên, Kim Sơn phát nguyên vi Kim giang nhất tòng tả trạch Ngọc Sơn phát nguyên, vi Ngọc giang, kính Hòa Vang huyện An Lâm phường nhi hợp lưu vi tiểu giang. Quá Trừng hà châu chúng nguyên hiệp.
Từ cột số 7 đến hết cột chữ số 13 đọc là:
Lưu kính Văn Ly xã phù khởi đại châu, trường tam thập dư lí. Thủy tòng Nam Bắc phân lưu; Nam vi đại giang kính Duy Xuyên huyện, Thi Lai xã tân khẩu, biệt xuất nhất chi Dưỡng Chân giang, hựu Đông lưu kính Mỹ Xuyên xã tục danh Kỉ Thế giang”. Bắc vi tiểu giang, kính Diên Phước huyện, Câu Nhí xã vi Câu Nhí giang. Giang khẩu biệt xuất nhất chi vi Vĩnh Điện Hà, hựu đông lưu kính Đông An châu vi Cối Thị giang (bổn khởi nhất giang, trung hữu đại châu cố dị kì danh nhĩ) quá đại châu đông phục hiệp lưu chú Đại Chiêm hải khẩu Cối Thị giang. Tự Đức tam niên cải kim danh, đăng trật tự điển.
Từ cột số 14 đến hết cột chữ số 18 đọc là: Án Gia Long dĩ tiền Mỹ Xuyên xã vi đại giang, phàm công tư thuyền sưu tất do đại giang nhi hành. Minh Mạng sơ tuấn Vĩnh Điện Hà, thủy thế hựu tòng tiểu giang xung phóng. Sổ thập niên lai, bạch sa bồi ủng trung châu hiệp, nam ngạn thành lộ, nhi Sài Thị giang thâm quảng toại thành đại giang.
Dịch nghĩa chữ Hán từ cột 1 đến cột 18:
Sông Vu Da lớn nhỏ có 2 dòng. Phía Nam là sông lớn. Sông lớn có 2 nguồn : một nguồn phát nguyên từ Tả Trạch là sông Bông còn có tên là sông Ma Vương ; Một nguồn phát từ vùng núi Thu Bồn là sông Ô Bá đến phường Đồng Hoạch huyện Hòa Vang hiệp lực lại thành sông lớn.
Phía Bắc là sông nhỏ. Sông nhỏ cũng có 2 nguồn : một nguồn phát nguyên từ Kim Sơn thuộc nguồn Lỗ Đông là sông Vàng ; một nguồn phát nguyên từ Ngọc Sơn của Tả Trạch làm sông Ngọc chảy qua phường An Lâm huyện Hòa Vang hợp lưu thành sông nhỏ (của sông Vu Da). Qua bãi cát sông Trừng thì cả sông lớn và sông nhỏ hiệp lưu lại chảy đến ngã Văn Ly thì nổi lên một gò cát lớn dài hơn 30 dặm (tức là Gò Nổi của Điện Bàn). Từ (Văn Ly) dòng sông chia làm hai chi nam bắc, gồm: Phía nam là sông lớn (từ Văn Ly chảy về phía cầu Chiêm Sơn) đến xã Thi Lai huyện Duy Xuyên rồi tách ra một chi chảy về hướng đông nam làm sông Dưỡng Chân, một chi chảy về hướng Bắc qua xã Mỹ Xuyên, là sông Kỉ Thế (bản viết tay dưới thời vua Tự Đức ghi là Kẻ Thí, nay Quốc sử quán thời vua Thành Thái đổi thành tên chữ Hán là Kỉ Thế).
Phía bắc là sông nhỏ chảy qua xã Câu Nghê huyện Diên Phước làm sông Câu Nhí rồi tách thành 2 chi lưu: một chi chảy về hướng Bắc là sông Vĩnh Điện, một chi chảy về hướng đông qua cồn cát Đông An làm thành khúc sông Chợ Cối (Chợ Củi) chảy về cửa biển Đại Chiêm (Cửa Đại). Năm Tự Đức thứ 3 (1850) sông Chợ Củi đổi thành tên chữ Hán là Sài Thị giang, ghi vào điển thờ.
Từ niên hiệu Gia Long về trước, sông Thu Bồn phía xã Mỹ Xuyên là sông lớn, ghe thuyền lớn đều qua đây. Đầu niên hiệu Minh Mạng, vua lệnh đào rộng và sâu sông Vĩnh Điện nên nước (từ Văn Ly) tuôn chảy (xung phóng) vào nhánh sông nhỏ làm cho nhánh sông nhỏ thành sông lớn, vừa đổ nước vào sông Vĩnh Điện vừa biến sông Chợ Củi (Sài Thị) thành dòng sông chính của Thu Bồn (chảy qua Cầu Mống>Thanh Chiêm>Cẩm Hà>Cẩm Nam>Cửa Đại). Còn nhánh sông lớn phía Duy Xuyên, mấy mươi năm gần đây (ý nói thời vua Thành Thái), phù sa trắng (bạch sa) bồi nhiều đoạn sông thành “lộ”.
Chữ “lộ  trong ngữ cảnh câu “nam ngạn thành lộ” được hiểu là con đường đi ngang qua lòng sông đã nông cạn, như đường đi từ chợ La Tháp qua thôn Lệ Bắc của xã Duy Châu, từ Đò Gặp qua xóm Vạn Buồng ở Duy Trinh, từ Bến Quyên qua Gò Khoai của làng MXT, nghĩa là trước khi Minh Mạng lệnh đào sông Vĩnh Điện thì 3 địa điểm đó còn ở trong lòng dòng sông Thu Bồn.
Năm 1823 & 1824, vua Minh Mạng lệnh đào sông Vĩnh Điện, sông Thu Bồn bắt đầu chuyển dòng. Năm 1882, thời vua Tự Đức, bản chép tay Đại Nam nhất thống chí hoàn thành, có viết tên sông Mãi Xuyên (tục gọi là sông Đào) và sông Lang Châu. Năm 1906, Thành Thái ra lệnh chỉnh lí bản viết tay thời Tự Đức theo thực tế bồi lấp. Đầu năm 1910, vua Duy Tân cho phép khắc in mộc bản, thì sông Mãi Xuyên và sông Lang Châu đã nông cạn nên không còn được khắc tên ở mộc bản Đại Nam nhất thống chí nữa! Bồi lấp quá nhanh!
Chi tiết thời Gia Long về trước, dòng chính của Thu Bồn chảy về phía sông Dưỡng Chân (qua cầu Bà Rén) ở mộc bản giúp các nhà nghiên cứu xác định lại ranh giới cực nam của châu Rí mà Chiêm Thành dâng cho Đại Việt là đến sông Dưỡng Chân (Bà Rén) chứ không phải chỉ đến sông Chợ Củi.
“Bờ bắc sông Thu Bồn là phía bắc cầu Bà Rén” cho thấy Mỹ Xuyên Tây là vùng đất biên viễn, phên giậu mà ngài Tiền hiền Lê Quý Công tiên phong “quy dân lập ấp, thác thổ khai biên” lập nên làng Mỹ Xuyên thời xa xưa. Đó là vai trò của Tiền hiền Lê Quý Công và làng Mỹ Xuyên đối với công cuộc “mở cõi” ở bắc Quảng Nam.
Việc đào sông Câu Nhí đem lại lợi ích chiến lược cho đất nước vì khai thông sâu rộng sông Vĩnh Điện để ghe bầu từ cảng Đà Nẵng theo sông Hàn qua sông Vĩnh Điện lên nguồn Thu Bồn giúp tăng cường việc giao lưu hàng hóa, nông, lâm, hải sản bằng đường thủy nên ca dao xứ Quảng có câu:
Biết bao giờ trả cho hết nợ Cao Hoàng
Đào sông Câu Nhí, đắp đàng Bồng Miêu
Nhưng do Thu Bồn chuyển dòng nên chỉ mấy chục năm sau mà phù sa đã bồi lấp lòng sông Kỉ Thế (... Số thập niên lai, bạch sa bồi ủng trung châu hiệp...) tạo thành các xứ đất mới như Vạn Loan, Gò Gùi, Xác Chè, Thủy Nhai, Đống Trái, Tân Trưng, Bắc Tư Thổ, Sa Học Điền, Túc Thổ, Giang Tâm,... ở phía tây làng Mỹ Xuyên Tây, làm tăng thêm hơn 40 mẫu ta đất sản xuất cho làng Mỹ Xuyên Tây, nâng tổng diện tích đất công điền công thổ của làng Mỹ Xuyên Tây từ 308 mẫu ta đầu thế kỷ 19 dưới thời vua Gia Long lên gần 450 mẫu ta đất công điền vào nửa đầu thế kỉ 20.
Ai đã từng bơi ghe trên nước lũ lụt để hái dâu tằm, vớt củi, bắt dế ở khúc sông Kỉ Thế thì đều thấy rằng nhờ làng Hà Mật và xóm Mỹ Luân che chắn nên nước lũ lụt trên các xứ đất từ Vạn Loan đến Đô Bắc với tốc độ chảy rất chậm, đủ thời gian để một lượng lớn phù sa lắng xuống bồi lấp nhanh sông Kỉ Thế trong một thế kỉ, kể từ lúc Minh Mạng lệnh đào sông Vĩnh Điện.
Nhiều bô lão ở Mỹ Xuyên Tây còn nhớ hồi nhỏ được thầy Chuyết, thầy Cúc cho học thuộc lòng bài thơ Quê hương của Thông Thoại (một Thông ngôn thời Pháp thuộc, tên là Trần Gia Thoại, nguyên quán ở Mỹ Xuyên Tây) sau 50 năm xa quê trở về, thấy sự bồi lấp của khúc sông Kỉ Thế từ Thi Lai ra Bến Giá nên ông đã thảng thốt:
Sông xưa nước chảy lững lờ,
 Mà nay sông lấp bao giờ chẳng hay?
Nào đò Ba Bến là đâu,
Gần xa chỉ thấy bãi dâu, nỗng gò! …
Thực tế điền dã của Ban Văn thư làng Mỹ Xuyên Tây thì sông Lang Châu rất sâu và rộng, là con sông tự nhiên từ thời xa xưa. Trong lược đồ ở trang 34, nếu sông Mãi Xuyên là sông đào bằng sức người để “tiếp nước cho sông Lang Châu” thì chỉ cần đào từ cầu Bàu Vân thẳng xuống Cầu Máng Ông Thấn chỉ 300m đường chim bay để khỏi tốn công đào gần 3km quanh xứ đất Diều Gà. Cho nên sông Mãi Xuyên cũng là sông tự nhiên có từ thời Chiêm Thành. Ÿ

No comments:

Post a Comment